Cỏ mần trầu và công dụng của cỏ mần trầu

Trong sách y văn cổ, cỏ mần trầu được gọi là thiên kim thảo nghĩa là cỏ ngàn vàng, cho thấy người xưa rất coi trọng giá trị của thứ cỏ này. Nó có tác dụng thanh nhiệt giải độc, khu phong lợi thấp, tán ứ chỉ huyết, là vị thuốc mát, có tác dụng chữa sốt, làm cho ra mồ hôi, chữa sốt rét đồng thời có tác dụng làm mát gan. 

Tên khác của cỏ mần trầu: Tết suất thảo, Ngưu cần thảo, Cỏ vườn trầu, Màng trầu, Thanh tâm thảo, Cỏ chỉ tía, Ngưu cân thảo, Hang ma (Tày), Co nhả hút (Thái), Hìa xú xan (Dao), Cao day (Ba Na), Hất t’rớ lạy (K’Ho), R’day (H’Dong)

Tên khoa học: Eleusine indica Gaerth., họ Lúa (Poaceae).

Mô tả: Cây thảo sống hằng năm, cao 15-90cm, có rễ mọc khỏe. Thân bò dài ở gốc, phân nhánh, sau mọc thẳng đứng thành bụi. Lá mọc so le, hình dải nhọn. Cụm hoa là bông xẻ ngón có 5-7 nhánh dài mọc tỏa tròn đều ở đầu cuống chung và có 1-2 nhánh xếp thấp hơn ở dưới, mỗi nhánh mang nhiều hoa. Quả thuôn dài, gần như có ba cạnh. Cây ra hoa từ tháng 3-11.

Bộ phận dùng: Toàn cây

Phân bố: Loài cổ nhiệt đới, mọc phổ biến ở nhiều nơi, thường gặp ở bờ ruộng, ven đường, bãi hoang. 

Thu hái: vào mùa khô, rửa sạch, dùng tươi hay phơi khô.

Thành phần hóa học: Phần trên mặt đất chứa: 3-0-β-D-Glucopy ranosyl-βsitosterol và dẫn chất 6’-0-palmitoyl. Cành lá tươi có flavonoid.

Một số bài thuốc từ cỏ mần trầu

Cao huyết áp: Dùng cây tươi 500g, rửa sạch, giã nát, thêm 1 bát nước đun sôi để nguội. Lọc qua vải và vắt lấy nước cốt, thêm ít đường cho đủ ngọt cho dễ uống. Uống 2 lần, sáng và chiều.

Sốt cao, co giật, hôn mê: Cỏ mần trầu 120g. Sắc với 600 ml nước, còn 400 ml, thêm ít muối, uống nhiều lần trong 12 giờ.

Lao phổi, ho khan, sốt âm ỉ về chiều, lao lực mệt nhọc, tiểu ít, nước tiểu vàng: Lấy cỏ mần trầu (40g), sắc 200ml uống 1 lần/ngày, có thể thêm 20g rễ cỏ tranh sắc chung uống trong ngày.

Phụ nữ có thai: Khi phụ nữ mang thai thấy người nóng, táo bón, buồn phiền, động thai, nhức đầu, nôn mửa, tức ngực. Ngày sắc 12 - 16g khô trong 300ml nước uống 2 - 3 lần.

Cỏ mần trầu rất dễ tìm vì hay mọc ở vệ đường, bãi cỏ và có thể thu hái quanh năm

Trẻ con: Khi trẻ con bị mụn nhọt, sốt cao, sốt xuất huyết, rôm sảy, ban đỏ, tưa lưỡi, lấy cỏ mần trầu tươi (120g) rửa sạch, giã nát, vắt lấy nước uống. Cỏ khô 20g sắc với 400ml nước còn 100ml chia uống hai lần.

Chữa phong nhiệt, ghẻ lở, mẩn ngứa: Lấy cỏ mần trầu tươi, rửa sạch giã nát vắt lấy nước cốt uống. Ngày 2 – 3 lần.

Trẻ đái dầm: 20g cỏ mần trầu, mùi tàu 20g, rau ngổ 20g, cỏ sữa lá nhỏ 10g thái nhỏ, sắc uống sau bữa ăn chiều.

Sỏi thận, sỏi đường tiết niệu, sỏi bang quang: Cỏ mần trầu, lá từ bi, kim tiền thảo, ké hoa đào, mỗi vị 20g nấu cùng 400ml nước sắc uống trong ngày. Ngày 3 lần sáng, trưa, chiều.

Viêm thận cấp, mãn tính: Cỏ mần trầu 40g, cây tầm gửi 40g, râu mèo 20g, kim tiền thảo 20g, cỏ xước 20g sắc uống mỗi ngày trong vòng 1 tháng.

Ðề phòng viêm não truyền nhiễm: Cỏ mần trầu 30g, dùng như trà uống trong 3 ngày, sau đó nghỉ 10 ngày, rồi lặp lại như vậy.

Dùng cỏ mần trầu nấu chung với hương nhu, bồ kết gội đầu để bóng mượt ngăn rụng tóc

Ngoài ra, cỏ mần trầu với bồ kết đun lấy nước để gội đầu dùng trị tóc bạc sớm. Người dân quê dùng cỏ mần trầu nấu chung với hương nhu, bồ kết gội đầu để bóng mượt ngăn rụng tóc.

Theo báo Sức khỏe gia đình, không chỉ người Việt Nam thích dùng các bài thuốc dân gian từ cỏ mần trầu mà nhiều nước khác ở khu vực Á châu và Nam Mỹ cũng dùng loại cây này trị bệnh.

Ở Malaysia, nước ép cỏ mần trầu được dùng cho phụ nữ sau khi sinh để mau hết sản dịch và dùng cho bệnh nhân hen suyễn. Người Philippin dùng làm thuốc lợi tiểu, chữa kiết lỵ, nước sắc dùng gội đầu sạch gàu, chống rụng tóc.

Người dân Bangladesh thì dùng rễ mần trầu kết hợp với một số loại cây khác để điều trị sa tử cung. Người dân Sri Lanka lại dùng cỏ mần trầu giã nhỏ đắp lên da để trị bong gân. Còn dân Venezuela thì nấu nước tắm cho trẻ sơ sinh nhằm trị vàng da…

0 nhận xét:

Đăng nhận xét